TinTôi biết ơn Đảng Cộng sản Việt Nam và bác Hồ
Published on February 8, 2015 · No
TTXVA BIÊN TẬP
Bài viết dưới đây được đăng trên FacebookHội những người ghét bọn phản động (HGPD) ngày 9 tháng 2 năm 2015, do một người ký danh là admin Karel Phùng soạn thảo
thành lập công ty 100 vốn nước ngoài khay nhựa công nghiệp Tin tức . Trên tinh thần bảo vệ quyền tự do ngôn luận và sẵn sàng cung cấp mọi luồng thông tin về một sự kiện bất kỳ, nhóm biên tập TTXVA mạn phép đăng lại bài viết này và không can thiệp vào nội dung. Mọi quan điểm phản hồi mong quý độc giả tường trình lịch thiệp dưới bài viết này hoặc gửi về hộp thư TTXVA, chúng tôi hân hạnh được phúc đáp !
<

Tôi sinh ra và lớn lên ở Ba Vì, một trong những mảnh đất linh thiêng của người Việt từ thời cổ xưa. Ruộng đất phì nhiêu, thiên nhiên ưu đãi, Ba Vì có tất cả những gì mà người dân ở đó cần tới: Lúa, ngô, khoai, sắn, bò sữa, các nông trường dứa mênh mông bát ngát và ngoài ra, cùng với các khu khác thuộc tỉnh Sơn Tây cũ, Ba Vì quê tôi được coi là quê của những người bộ đội cụ Hồ. Trường kỹ thuật công binh, trường sĩ quan lục quân, khu du lịch sinh thái, những cánh đồng thẳng cánh cò bay… Ba Vì có tất cả những gì khiến cho người Ba Vì chúng tôi thêm tự hào. Nhưng cách đó chưa lâu, chỉ hơn 60 năm về trước, ít ai còn biết được rằng, Ba Vì cũng là một vùng mà người dân phải sống trong cảnh tột cùng của áp bức, của kiếp người nô lệ và lầm than của người mất nước.
Quê nội tôi nằm ngay ở cầu Trung Hà, quê ngoại tôi nằm ở ven sông Hồng, bước chân lên thuyền là sang thành phố Việt Trì, đi ngược lên vài km là núi Nghĩa Lĩnh với đền thờ Vua Hùng, cố đô xưa của người Việt cổ. Bố mẹ tôi và những người lớn tuổi kể lại rằng, thời Pháp thuộc chỉ có một thiểu số vô cùng nhỏ với những gia đình địa chủ, phú nông và những kẻ làm lính đánh thuê cho Pháp, cuộc sống có thể nói là đầy đủ, sung sướng nhưng còn hầu như tất cả người dân ở quê tôi có thể nói vô cùng khổ sở. Thời kháng chiến chống Pháp, Ba Vì cũng như nhiều nơi khác, có những khu do Việt Minh kiểm soát gọi là vùng tự do và những khu do Pháp kiểm soát gọi là vùng địch chiếm. Quân Pháp và Việt Minh thường xuyên đụng độ và vì nhiều lần quân Pháp thất bại trong việc mở rộng chiếm đóng nên chỉ dám mở những cuộc càn quét lớn vào một vài nơi ở vùng ven khu tự do rồi lại rút quân. Mỗi lần càn quét là một lần mà quân Pháp để lại biết bao nhiêu đau thương, tang tóc cho người dân quê tôi. Nhà cửa bị đốt phá, thậm chí nhà thờ họ cũng bị đốt, những cuốn sách lưu truyền của các dòng họ, những cuốn gia phả đều bị chúng đốt một cách không thương tiếc, chưa kể tới mùa màng bị phá hoại, phụ nữ bị hãm hiếp vô số kể.
Bán con để lấy tiền đóng sưu thuế, cho con đi ở đợ để trả nợ, không có tiền nuôi con nên phải để cho con đi ở hết chín cửa người, con gái nhà nghèo mà có chút nhan sắc phúc hay họa chưa biết nhưng chẳng mấy gia đình nào được trọn vẹn vào cái thời mà cả dân tộc phải làm nô lệ ấy, tất cả được sử sách còn lưu lại cho tới muôn đời sau. Những tác phẩm ra đời trong phong trào hiện thực phê phán của các tác giả như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… với tôi không hề xa lạ. Bởi vì rất nhiều những nhân vật trong các tác phẩm đó không khác gì những số phận người trong gia đình, họ hàng nội ngoại ở quê tôi, trong đó bà nội tôi bị giặc Pháp bắn chết vào năm 1944.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và sau đó là mặt trận Việt Minh dưới sự lãnh đạo sáng suốt của chủ tịch Hồ Chí Minh, đã mang tới ánh sáng tương lai cho người dân quê hương tôi, đưa người dân thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than. Hưởng ứng lời kêu gọi của mặt trận Việt Minh, toàn dân đứng lên cứu nước, mẹ tôi tham gia làm giao liên khi còn nhỏ và bố tôi cũng tham gia hoạt động cách mạng bằng cuộc chiến với giặc đói, giặc dốt bằng cách đứng ra cùng nhiều người khác dậy bình dân học vụ và từng bảo vệ người dân phá kho thóc cứu đói vào năm 1945 và cho tới ngày nay tôi vẫn luôn tự hào vì điều đó.
Trải qua 85 năm đấu tranh, với bao nhiêu thăng trầm, biết bao nhiêu biến cố lịch sử, cách mạng thành công đưa tới thống nhất đất nước vào năm 1975, người dân quê tôi cũng như hàng chục triệu người Việt Nam khác đều vui mừng. Đã qua rồi kiếp người làm nô lệ, đã qua rồi những năm tháng phải sống lưu vong ngay trên chính quê cha đất tổ của mình. Dân cày có ruộng, lớp trẻ chúng tôi và những thế hệ sau này được cắp sách tới trường và dù Ba Vì quê tôi chưa phải là giàu nhưng ít nhất cũng qua rồi những năm tháng tột cùng của sự khổ đau.
Mỗi lần về thăm quê hương tôi lại cảm thấy mình gắn bó với quê hương hơn bao giờ hết. Ba Vì quê tôi vẫn còn nghèo, còn rất nhiều người nghèo nhưng đó là cái nghèo khác xa với cái nghèo của những năm tháng thời Pháp thuộc, khác xa với cái nghèo của thời kỳ Pháp-Mỹ chung tay đô hộ Việt Nam. Cái nghèo về vật chất, thiếu thốn những điều kiện cho một cuộc sống xa hoa, cái nghèo còn quá ít người mua được xe hơi, nghèo của số ít người sở hữu Iphone, Ipad, nhưng làng quê rất thanh bình, không ai còn phải cầm súng ra trận, không còn cảnh mẹ khóc con, vợ khóc chồng mỗi khi giấy báo tử gửi về. Có thể nói một cái nghèo đúng theo nghĩa câu của các cụ thời xưa để lại “Lành cho sạch, rách cho thơm” và nghèo gần như chẳng còn mấy ai phải “ăn chưa xong bữa sáng, đã phải lo bữa tối”.
Bác Hồ đã từng nói “Vì hạnh phúc mười năm phải trồng cây. Vì hạnh phúc trăm năm phải trồng người” và Ba Vì quê tôi với những mái trường có truyền thống học tập cùng với những thầy cô tận tụy yêu nghề, người dân Ba Vì yêu nước, một lòng trung thành với Tổ quốc, tôi tin chắc rằng một ngày kia Ba Vì sẽ không bao giờ còn phải nghèo khó, đói ăn như xưa, không ai còn phải sống tha phương cầu thực và Ba Vì sẽ chung sức góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam phồn vinh và thịnh vượng.
">
Comments[ 0 ]